Kinh Dịch nói: nhà nào tích lũy việc thiện thì ắt sẽ có phúc lành để lại về sau. Ngày xưa, họ Nhan định gả con gái cho Thúc Lương Hột, liền kể rõ công đức tổ tiên dòng họ đã tích lũy lâu đời, và đoán trước rằng con cháu về sau nhất định sẽ có người hưng thịnh. Khổng Tử cũng khen vua Thuấn là bậc đại hiếu, nói rằng: tổ miếu sẽ được hưởng hương lửa nhờ ông, con cháu sẽ được bảo toàn nhờ ông. Đó đều là lời bàn rất sâu sắc. Hãy thử lấy chuyện xưa làm chứng.
Như Dương Thiếu Sư Vinh, người Kiến Ninh. Tổ tiên ông đời đời làm nghề chở đò qua sông. Một lần mưa lớn lâu ngày, nước suối dâng cao, dòng chảy xiết tràn ra, cuốn sập nhà dân, người chết bị nước cuốn trôi xuống. Những chiếc thuyền khác đều tranh nhau vớt lấy hàng hóa, chỉ riêng ông cố và ông nội của Thiếu Sư thì chỉ cứu người, tuyệt đối không lấy một món đồ nào. Dân làng chê họ ngu ngốc. Nhưng đến đời cha của Thiếu Sư, gia đình dần dần khá lên. Có một người kỳ lạ hóa thành đạo sĩ đến nói rằng: tổ tiên ông có âm đức, con cháu sau này ắt sẽ hiển quý, nên chôn mộ ở một nơi nọ. Gia đình làm theo và an táng tại đó, chính là ngôi mộ Bạch Thỏ ngày nay. Về sau Thiếu Sư sinh ra, mới hai mươi tuổi đã đỗ đạt, làm quan đến bậc tam công. Ông cố và ông nội cũng được truy phong theo chức vị của ông. Con cháu đời đời giàu sang hiển đạt, đến nay vẫn còn nhiều người tài giỏi.
Lại có người đất Ngân là Dương Tự Trừng, ban đầu làm lại viên ở huyện. Ông luôn giữ lòng nhân hậu, làm việc công bằng, tuân thủ pháp luật. Lúc ấy quan huyện rất nghiêm khắc. Một lần đánh đập phạm nhân, máu chảy đầy đất mà cơn giận vẫn chưa nguôi. Dương Tự Trừng quỳ xuống xin quan nới tay và khuyên giải. Quan nói: người này phạm pháp trái lý như vậy, sao không giận cho được. Dương Tự Trừng dập đầu thưa rằng: bề trên mất đạo nên dân chúng mới ly tán đã lâu. Nếu hiểu được tình cảnh của họ thì nên thương xót mà đừng vui, vui còn không nên huống chi là giận. Quan huyện nghe vậy liền dịu mặt.
Dương Tự Trừng nhà rất nghèo nhưng người ta biếu xén gì ông cũng không nhận. Khi gặp tù nhân thiếu ăn, ông thường tìm mọi cách giúp đỡ. Có một ngày, có mấy tù nhân mới bị giải đến, đang chờ cơm. Nhà ông lại hết gạo. Nếu đem gạo cho tù thì gia đình không có gì ăn, nhưng nếu giữ lại thì tù nhân lại đáng thương. Ông đem chuyện bàn với vợ. Vợ hỏi tù nhân từ đâu đến, ông đáp rằng họ bị giải từ Hàng Châu tới, dọc đường nhịn đói, sắc mặt xanh xao, tiều tụy thấy rõ. Vì vậy, ông liền đem phần gạo của mình nấu cháo cho tù ăn.
Về sau ông sinh được hai con trai. Con trưởng tên Thủ Trần, con thứ tên Thủ Chỉ, đều làm quan đến chức Thị lang Bộ Lại ở Nam và Bắc. Cháu trưởng làm Thị lang Bộ Hình, cháu thứ làm quan ở Tứ Xuyên,giữ chức quan giám sát, cả hai đều là danh thần. Người nổi tiếng về đức chính trị ở Sở Đình sau này cũng là hậu duệ của họ.
Vào thời Chính Thống, có kẻ tên Đặng Mậu Thất khởi loạn ở Phúc Kiến, dân chúng và sĩ phu theo giặc rất đông. Triều đình liền cử quan Đô hiến họ Trương ở huyện Ngân là Trương Khải đem quân đi nam chinh, dùng mưu bắt giặc. Sau đó giao cho quan Đô sự họ Tạ thuộc ty Bố chánh truy bắt và giết đảng cướp ở tuyến phía đông. Quan Tạ yêu cầu lập danh sách những kẻ theo giặc. Ai không theo giặc thì lén phát cho một lá cờ nhỏ bằng vải trắng, hẹn đến ngày quân kéo đến thì cắm cờ trước cửa, rồi dặn binh lính không được giết bừa. Nhờ vậy cứu sống được hàng vạn người. Về sau con trai của quan Tạ tên Tạ Thiên đỗ Trạng nguyên, làm tới chức tể tướng. Cháu của ông tên Tạ Phi lại đỗ Thám hoa.
Lại có họ Lâm ở Bồ Điền. Tổ tiên của họ có một bà lão rất thích làm việc thiện, thường làm bánh bột đem bố thí cho người. Ai đến xin bà đều cho, nét mặt không hề tỏ ra mệt mỏi hay khó chịu. Có một vị tiên hóa thành đạo sĩ, mỗi sáng đều đến xin ăn sáu bảy cái bánh. Bà ngày nào cũng cho, suốt ba năm không đổi, như một ngày. Đạo sĩ biết bà thật lòng nên nói: “Ta ăn bánh của bà ba năm, lấy gì báo đáp? Sau phủ có một mảnh đất, hãy đem chôn cất ở đó, con cháu sẽ được làm quan, số lượng nhiều như một đấu hạt mè.” Con trai bà làm theo, chôn đúng nơi được chỉ. Ngay đời đầu đã có chín người thi đỗ. Nhiều đời sau con cháu đội mũ mặc áo quan liên tiếp, dòng họ cực kỳ hưng thịnh. Vì thế ở Phúc Kiến có câu truyền rằng: “Không có họ Lâm thì bảng vàng không mở” (ý nói bảng thi đỗ lúc nào cũng có người họ Lâm).
Cha của Phùng Trác Am (một vị Thái sử) vốn chỉ là học trò trường huyện. Mùa đông giá rét, sáng sớm ông đi học, trên đường gặp một người ngã nằm trong tuyết, sờ vào thì người ấy đã cứng nửa thân như sắp chết. Ông liền cởi áo bông của mình đắp cho, lại dìu về cứu sống. Đêm đó ông mộng thấy thần báo rằng: “Ngươi cứu một mạng người, xuất phát từ lòng thành chí thiết. Ta sẽ sai Hàn Kỳ làm con của ngươi.” Đến khi sinh ra Phùng Trác Am, quả nhiên đặt tên là Kỳ.
Lại có quan Thượng thư họ Ứng ở Thai Châu. Thuở trai trẻ ông học hành trên núi. Ban đêm thường có tiếng quỷ hú tụ tập, nhiều khi làm người ta kinh hãi. Nhưng ông không sợ. Có một đêm ông nghe quỷ nói với nhau rằng: “Có một người đàn bà, chồng đi xa lâu ngày không về. Cha mẹ chồng ép nàng tái giá. Đêm mai nàng sẽ thắt cổ chết ở đây, ta sẽ được thế mạng.” Quan Ứng âm thầm bán ruộng, lấy được bốn lạng bạc, liền giả làm thư của người chồng, gửi bạc về nhà. Cha mẹ chồng thấy thư thì nghi vì chữ viết không giống, nhưng rồi lại nói: “Thư thì có thể giả, chứ bạc thì không thể giả. Chắc con trai vẫn bình an.” Nhờ vậy người vợ không bị ép gả nữa. Về sau người chồng thật sự trở về, vợ chồng lại đoàn tụ như xưa.
Sau đó Quan Ứng lại nghe quỷ nói: “Ta sắp được thế mạng rồi. “Không ngờ tên tú tài này làm hỏng chuyện của ta!” Một con quỷ khác đứng bên cạnh nói: “Sao ngươi không giáng họa cho hắn?” Quỷ kia đáp: “Thượng Đế thấy người này lòng dạ tốt lành, đã định cho hắn làm ‘Thượng thư âm đức’ (quan ghi công đức nơi âm phủ). Ta làm sao có thể hại được hắn?” Nghe vậy, ông Ứng càng thêm cố gắng, ngày ngày siêng tu điều thiện, đức càng ngày càng dày. Gặp năm đói kém thì ông đem lúa gạo ra cứu tế. Thấy họ hàng thân thích gặp nạn thì ông tận tình giúp đỡ. Gặp người đối xử ngang ngược vô lý, ông lại quay về tự trách mình, bình thản chấp nhận. Vì thế con cháu ông thi đỗ làm quan về sau rất nhiều, liên tiếp không dứt.
Ở Thường Thục có người tên Từ Phượng Trúc. Cha ông vốn giàu có, gặp năm mất mùa liền giảm tiền thuê ruộng để làm gương cho cả vùng, lại đem thóc gạo chia ra cứu giúp người nghèo đói. Ban đêm nghe quỷ hát ngoài cửa rằng: “Ngàn lần không sai, vạn lần không sai, nhà họ Từ có tú tài rồi sẽ làm đến cử nhân.” Tiếng ấy gọi liên tục suốt nhiều đêm không dứt. Năm ấy Phượng Trúc quả nhiên đỗ kỳ thi hương. Cha ông vì vậy càng tích đức nhiều hơn, siêng năng không hề lười, xây cầu sửa đường, làm trai đàn cúng chư tăng, giúp đỡ mọi người. Hễ việc gì có lợi cho người, ông đều dốc lòng làm. Sau đó lại nghe quỷ hát ngoài cửa rằng: “Ngàn lần không sai, vạn lần không sai, nhà họ Từ có cử nhân rồi sẽ làm đến chức Đô đường.” Cuối cùng Phượng Trúc làm quan đến chức Tuần phủ hai tỉnh Chiết Giang.
Ở Gia Hưng có quan Đồ Khang Hy (tước công). Ban đầu ông làm Chủ sự ở Bộ Hình. Có lần ngủ lại trong ngục, ông hỏi han tỉ mỉ tình trạng của từng tù nhân, phát hiện ra vài người bị oan. Ông không tự nhận đó là công lao, mà bí mật dâng sớ trình bày việc ấy lên quan trên. Đến kỳ xét xử triều đình, quan trên trích lời trong sớ để hỏi từng tù nhân, ai cũng thừa nhận đúng như vậy. Nhờ thế giải oan được hơn mười người. Khi ấy trong triều đều ca ngợi vị thượng thư xử án sáng suốt. Nhưng ông lại tâu thêm rằng: “Ngay dưới chân thiên tử còn nhiều dân bị oan; bốn biển rộng lớn, trăm họ đông đảo, sao có thể không còn kẻ bị xử oan. Nên cứ năm năm hãy phái một quan chuyên giảm hình để xét lại…”Quan thượng thư tâu xin xét lại cho đúng sự thật và minh oan. Triều đình chuẩn tấu. Khi ấy ông cũng được cử vào hàng quan chuyên phụ trách giảm hình và xét lại án phạt. Đêm đó ông mộng thấy một vị thần nói rằng: “Số của ngươi vốn không có con. Nay việc bàn về giảm hình của ngươi rất hợp với lòng trời. Thượng Đế ban cho ngươi ba người con trai, đều sẽ mặc áo tía thắt đai vàng.” Tối hôm ấy, phu nhân ông liền mang thai. Về sau sinh ba con: Ứng Huân, Ứng Khôn, Ứng Tuấn, đều làm quan hiển đạt.
Ở Gia Hưng có người tên Bao Bằng, tự Tín Chi. Cha ông từng làm thái thú Trì Dương, sinh bảy con trai, Bao Bằng là người con út. Ông rể ở nhà họ Viên tại Bình Hồ, giao tình với cha tôi rất thân. Ông học rộng tài cao nhưng thi cử nhiều lần không đỗ, nên dốc lòng nghiên cứu học thuyết của hai nhà (Nho – Phật hoặc Nho – Đạo). Một hôm ông đi chơi về hướng đông đến hồ Mạo, tình cờ ghé vào một ngôi chùa trong thôn, thấy tượng Quan Âm phơi mưa gió, đầm đìa nước, đứng trơ trọi. Ông liền mở túi lấy được mười lạng vàng đưa cho trụ trì, dặn tu sửa lại chùa và mái che cho tượng. Trụ trì nói rằng công việc lớn mà tiền ít, không thể làm xong. Ông lại lấy thêm bốn tấm vải tơ Tùng và mang cả bảy bộ quần áo trong rương tặng luôn, trong đó có một áo vải trữ mới mua. Người hầu xin ông giữ lại cho mình, ông nói: “Chỉ cần thánh tượng được yên ổn, ta có phải trần trụi cũng chẳng sao.” Trụ trì rơi nước mắt nói: “Cho tiền và vải vóc quần áo thì vẫn chưa phải khó, chỉ có tấm lòng này thật là khó có.” Về sau việc tu sửa hoàn tất, Bao Bằng dẫn cha già cùng đến thăm. Ngủ trong chùa, ông mộng thấy thần hộ chùa đến cảm tạ và nói: “Con của ngươi sẽ được hưởng lộc đời đời.” Sau này con ông tên Bao Biện và cháu tên Trương Phương đều thi đỗ, làm quan hiển hách.
Ở Gia Thiện có cha của Chi Lập Chi làm lại viên trong nha môn chuyên xử án. Có một người tù bị oan nhưng lại bị ghép tội nặng đến án tử. Ông thương xót, muốn cứu cho sống. Người tù dặn vợ rằng: “Chi công có lòng tốt, ta hổ thẹn không có gì báo đáp. Ngày mai mời ông ấy về quê, nàng hãy lấy thân mà hầu hạ ông ấy. Nếu ông chịu dùng lòng giúp ta thì ta có thể sống.” Vợ người tù khóc nhưng vẫn nghe theo. Đến khi Chi công tới, người vợ tự ra khuyên rượu rồi nói rõ ý định của chồng. Nhưng Chi công không chịu. Ông vẫn dốc sức minh oan cho người tù. Người tù được thả, hai vợ chồng đến tận nhà dập đầu cảm tạ và nói: “Ngài có đức như vậy thật hiếm có. Nay ngài lại không có con, chúng tôi có đứa con gái nhỏ, xin đưa đến làm thiếp quét nhà nấu bếp, việc này theo lễ vẫn có thể thông.” Chi công làm lễ đầy đủ rồi nhận cô gái ấy. Sau đó sinh được Chi Lập. Lập còn trẻ đã đỗ đầu, làm quan đến chức ở Hàn Lâm. Con của Lập là Cao, Cao sinh Lộc, đều được tiến cử làm học quan. Con của Lộc là Đại Luân thi đỗ làm quan. Mười câu chuyện kể trên tuy mỗi người làm việc khác nhau, nhưng đều quy về một chữ: thiện.
Nhưng nếu nói kỹ hơn thì việc thiện lại có nhiều loại: có thiện thật, thiện giả; thiện ngay thẳng, thiện quanh co; thiện âm thầm, thiện phô trương; thiện đúng, thiện sai; thiện lệch, thiện ngay; thiện nửa vời, thiện viên mãn; thiện lớn, thiện nhỏ; thiện khó, thiện dễ. Tất cả đều phải phân biệt thật rõ. Nếu làm thiện mà không hiểu đạo lý, thì tự cho là tu hành công đức, nào ngờ lại thành tạo nghiệp, uổng công khổ tâm mà vô ích.
Thế nào là thiện thật và thiện giả? Xưa có mấy nho sinh đến hỏi hòa thượng Trung Phong rằng: “Phật giáo nói báo ứng thiện ác như bóng theo hình. Nhưng có người làm thiện mà con cháu không phát đạt; có người làm ác mà nhà cửa lại hưng thịnh. Vậy lời Phật nói chẳng đáng tin.” Trung Phong đáp: “Phàm tình chưa rửa sạch, con mắt chân thật chưa mở, nên nhận thiện làm ác, nhận ác làm thiện, chuyện đó thường xảy ra. Không tự trách mình đảo lộn đúng sai, lại trách trời báo ứng không công bằng sao?” Họ hỏi: “Sao thiện ác lại có thể trái nhau như vậy?” Trung Phong bảo hãy thử nói ra thế nào là thiện ác. Một người nói: chửi người đánh người là ác; kính người lễ người là thiện. Trung Phong nói: chưa chắc. Người khác nói: tham tiền lấy bừa là ác; liêm khiết giữ mình là thiện. Trung Phong nói: chưa chắc. Mọi người lần lượt kể ra nhiều điều, nhưng Trung Phong đều bảo không hẳn đúng. Họ bèn hỏi rốt cuộc thế nào. Trung Phong nói: điều gì có lợi cho người là thiện, điều gì chỉ có lợi cho mình là ác. Có lợi cho người thì đôi khi đánh người mắng người vẫn là thiện (vì đánh mắng để sửa sai, cứu người khỏi họa). Có lợi cho mình thì dù kính người lễ người cũng có thể là ác (vì nịnh bợ cầu lợi). Vì vậy: làm thiện vì lợi người là công, công thì thật. Làm thiện vì lợi mình là tư, tư thì giả. Lại nữa: từ tâm mà ra là thật; chỉ bắt chước hành động bên ngoài là giả. Không vì mục đích mà vẫn làm là thật; có ý đồ mới làm là giả. Tất cả đều nên tự xét.
Thế nào là thiện ngay và thiện quanh? Người đời thấy kẻ hiền lành cẩn thận thì khen là thiện và quý trọng. Nhưng thánh nhân thà chọn người “cuồng” hoặc “quyên” (tức là có khí phách mạnh, có lập trường rõ), còn hạng “cẩn nguyện” quá mức tuy ai cũng thích, thánh nhân lại cho là kẻ phá hoại đức hạnh. Người đời phân thiện ác rõ ràng trái ngược với thánh nhân như vậy thì đủ biết bao nhiêu lựa chọn khác đều dễ sai lầm. Trời đất quỷ thần ban phúc giáng họa đều theo đúng sai của thánh nhân, chứ không theo thói chọn lựa của thế tục. Vì vậy muốn tích thiện tuyệt đối không được chạy theo tai mắt, mà phải tìm từ nguồn gốc kín đáo trong tâm, âm thầm gột rửa. Hoàn toàn vì lòng muốn giúp đời là ngay; chỉ cần có một chút muốn lấy lòng thế gian là quanh. Hoàn toàn vì lòng thương người là ngay; có một chút căm ghét đời là quanh. Hoàn toàn vì lòng kính người là ngay; có một chút coi đời như trò chơi là quanh. Đều phải xét thật kỹ.
Thế nào là thiện âm và thiện dương? Làm thiện mà người đời biết đến gọi là dương thiện. Làm thiện mà không ai biết gọi là âm đức. Âm đức thì trời báo đáp, dương thiện thì hưởng tiếng tốt ở đời (tiếng tốt cũng là phúc). Nhưng danh tiếng lại là thứ tạo hóa kỵ. Người hưởng danh lớn mà đức không tương xứng thường gặp tai họa lạ. Người không làm sai mà lại bị mang tiếng xấu thì con cháu lại hay phát đạt rất nhanh. Ranh giới âm dương thật vi tế.
Thế nào là đúng và sai? Nước Lỗ có luật: người nước Lỗ chuộc tì thiếp nô lệ từ các nước chư hầu về thì sẽ được nhận tiền thưởng từ kho nhà nước. Tử Cống chuộc người nhưng không nhận tiền thưởng. Khổng Tử nghe xong lại không hài lòng, nói rằng Tử Cống làm sai rồi. Bởi vì thánh nhân làm việc có thể chuyển phong tục, dạy đạo cho trăm họ, không phải chỉ làm đúng cho riêng mình. Nước Lỗ nhà giàu ít nhà nghèo nhiều, nếu ai nhận tiền thì bị chê không liêm, vậy từ nay về sau sẽ chẳng ai dám chuộc người nữa. Còn Tử Lộ cứu người khỏi chết đuối, người kia tạ bằng một con trâu, Tử Lộ nhận. Khổng Tử nghe thì rất vui, nói rằng từ nay nước Lỗ sẽ có nhiều người cứu kẻ đuối nước. Theo mắt thường thì Tử Cống không nhận tiền là tốt, Tử Lộ nhận trâu là xấu; nhưng Khổng Tử lại khen Tử Lộ và chê Tử Cống. Từ đó mới biết: làm thiện không chỉ xét việc trước mắt, mà phải xét ảnh hưởng về sau; không chỉ xét một thời, mà xét lâu dài; không chỉ xét một người, mà xét cả thiên hạ. Việc nhìn qua là thiện nhưng hậu quả lại gây hại cho người thì là giống thiện mà thật ra sai. Việc nhìn qua là không thiện nhưng hậu quả lại cứu được người thì là giống ác mà thật ra đúng. Những điều như “nghĩa không phải nghĩa”, “lễ không phải lễ”, “tín không phải tín”, “từ không phải từ” cũng đều cần quyết đoán phân biệt.
Thế nào là lệch và ngay? Xưa Lữ Văn Ý công khi từ chức tể tướng về quê, cả thiên hạ kính ngưỡng như Thái Sơn Bắc Đẩu. Có một người quê say rượu chửi mắng ông. Ông không động, dặn người hầu rằng kẻ say đừng chấp. Rồi đóng cửa bỏ qua. Một năm sau người kia phạm tội chết vào ngục. Lữ công mới hối hận nói: “Giá lúc đó ta hơi nghiêm một chút, đưa lên quan trị tội để răn đe, thì có thể sửa được từ sớm, đâu đến nỗi thành ra như vậy. Ta chỉ muốn giữ lòng dày, ai ngờ lại nuôi lớn cái ác của hắn.” Đó là lấy lòng thiện mà làm việc hại, tức là ngay mà hóa lệch. Lại có người lấy lòng ác mà làm việc lợi: như nhà giàu kia gặp năm đói, dân nghèo ban ngày giật lúa ngoài chợ, báo quan thì quan không xử, dân càng làm liều, chủ nhà bèn tự bắt và trừng trị nhục mạ họ, nhờ thế trật tự mới yên, nếu không gần như loạn. Vì vậy thiện là ngay, ác là lệch ai cũng biết; nhưng dùng lòng thiện mà làm việc hại là “ngay trong lệch”; dùng lòng ác mà làm việc lợi là “lệch trong ngay”, không thể không biết.
Thế nào là nửa và đầy? Kinh Dịch nói: thiện không tích lũy thì không đủ thành danh; ác không tích lũy thì không đủ diệt thân. Sách nói tội của nhà Thương đã “đầy tràn”, giống như chứa vật vào đồ đựng: siêng tích thì đầy, lười không tích thì không đầy. Đây là một cách hiểu. Lại xưa có một cô gái vào chùa muốn bố thí mà không có tiền, chỉ có hai đồng. Cô đem bỏ vào. Vị trụ trì đích thân làm lễ sám hối hồi hướng cho cô. Về sau cô vào cung được giàu sang, mang hàng ngàn lượng vàng tới cúng chùa. Lúc ấy trụ trì chỉ bảo đệ tử làm hồi hướng thay, không tự mình làm nữa. Cô hỏi: “Xưa con chỉ cúng hai đồng mà thầy tự sám hối; nay con cúng ngàn vàng mà thầy không tự làm, vì sao?” Trụ trì đáp: “Trước kia của ít nhưng tâm rất chân thật, không phải ta tự làm thì không đủ báo đức. Nay của nhiều nhưng tâm không tha thiết như xưa, để người khác làm là đủ.” Vậy ngàn vàng là nửa, còn hai đồng lại là đầy.
Lại chuyện Chung Ly truyền đan cho Lữ Tổ, biến sắt thành vàng để cứu đời. Lữ Tổ hỏi: “Rồi vàng có biến lại sắt không?” Chung Ly đáp: “Năm trăm năm sau sẽ trở về bản chất cũ.” Lữ Tổ nói: “Như vậy chẳng phải hại người năm trăm năm sau sao? Ta không muốn làm.” Chung Ly nói: “Tu tiên phải tích ba ngàn công hạnh. Chỉ một lời này của ngươi đã đủ trọn ba ngàn công hạnh.” Đây lại là một cách hiểu khác. Lại nữa, làm thiện mà tâm không chấp vào thiện, thì việc gì làm được cũng đều viên mãn. Nhưng nếu tâm còn dính vào thiện, dù suốt đời siêng năng cũng chỉ là nửa thiện. Ví dụ đem tiền cứu người mà trong lòng không thấy có “ta”, ngoài không thấy có “người”, giữa không thấy có “vật được bố thí”, gọi là ba vòng đều không, tức tâm thanh tịnh. Khi ấy một đấu gạo cũng gieo được phúc vô lượng, một đồng tiền cũng tiêu được tội ngàn kiếp. Nếu còn nhớ mình làm thiện, thì dù vàng chất vạn cân, phúc cũng không tròn.
Thế nào là lớn và nhỏ? Xưa có người tên Vệ Trọng Đạt làm quan trong viện. Một hôm bị dẫn xuống âm phủ. Người coi ngục sai đem hai quyển sổ thiện ác ra. Khi đem tới thì sổ ác đầy kín cả sân, còn sổ thiện chỉ một cuộn nhỏ mảnh như chiếc đũa. Họ đem cân thử, khi cân lên thì điều lạ xảy ra: quyển sổ ác đầy cả sân lại nhẹ, còn cuộn sổ thiện nhỏ như chiếc đũa lại nặng. Vệ Trọng Đạt ngạc nhiên nói: “Tôi năm nay chưa đến bốn mươi, sao lại có thể có nhiều tội lỗi như vậy?” Người kia đáp: “Chỉ cần một ý nghĩ không ngay chính thì đã là lỗi rồi, đâu cần đợi đến khi làm ra hành động.”
Trọng Đạt liền hỏi cuộn sổ thiện kia ghi chuyện gì. Người kia đáp: “Triều đình từng định làm một công trình rất lớn để sửa cầu đá Tam Sơn. Ngài đã dâng sớ can gián. Đây chính là bản thảo tờ sớ ấy.” Trọng Đạt nói: “Tôi tuy đã nói, nhưng triều đình không nghe, việc cũng chẳng thay đổi được gì. Vậy sao lại có sức nặng như thế?” Người kia đáp: “Triều đình dù không nghe, nhưng chỉ một ý niệm của ngài đã nghĩ vì muôn dân, nên công đức đã ở nơi vạn dân rồi. Nếu triều đình nghe theo, sức thiện ấy còn lớn hơn nữa. Vì vậy, chí hướng đặt ở thiên hạ quốc gia thì việc thiện dù ít cũng là lớn. Còn nếu chỉ lo cho riêng thân mình, thì dù làm nhiều cũng chỉ là nhỏ.”
Thế nào là khó và dễ? Các bậc Nho gia xưa nói: muốn thắng được bản thân thì phải bắt đầu từ chỗ khó thắng nhất. Khổng Tử khi nói về lòng nhân cũng dạy: phải bắt đầu từ cái khó trước. Ví như ông Thư ở Giang Tây đem hết tiền học phí hai năm vất vả mới có được để trả thay tiền công cho người khác, cứu vợ chồng người ta khỏi cảnh tan nát. Lại như ông Trương ở Hàm Đan đem số tiền dành dụm mười năm để chuộc người khác, cứu sống cả vợ con họ. Đây là những người có thể “xả bỏ ở chỗ khó xả bỏ”. Như ông Cận ở Trấn Giang, tuy đã già mà không có con, nhưng không nỡ lấy cô gái nhỏ làm thiếp, bèn trả lại cho nhà hàng xóm. Đó là “nhẫn được ở chỗ khó nhẫn”. Vì vậy phúc trời ban xuống cho họ cũng dày.
Người có tiền có quyền mà muốn lập đức thì rất dễ. Dễ mà không làm, đó gọi là tự bỏ mình, tự hủy mình. Còn người nghèo hèn muốn tạo phúc thì rất khó. Khó mà vẫn làm được mới thật đáng quý.
Làm thiện tùy duyên giúp đời thì vô cùng nhiều loại. Nếu nói tóm tắt cương lĩnh thì đại khái có mười điều:
Thứ nhất, giúp người làm điều thiện.
Thứ hai, giữ lòng yêu thương và kính trọng.
Thứ ba, giúp người thành tựu điều tốt đẹp.
Thứ tư, khuyên người làm thiện.
Thứ năm, cứu người trong nguy cấp.
Thứ sáu, xây dựng lợi ích lớn cho xã hội.
Thứ bảy, bố thí tiền của để tạo phúc.
Thứ tám, hộ trì chánh pháp.
Thứ chín, kính trọng bậc trưởng thượng.
Thứ mười, yêu quý và không nỡ hại sinh mạng.


Leave a Reply